Nguyễn Xích
Sinh năm: 1942
Quê quán: Làng Phượng Lĩnh, xã Đồng Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Làng Phượng Lĩnh, xã Đồng Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Giáo viên văn học (đã nghỉ hưu).
Các tác phẩm thơ:
1. Biển nhân gian - Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội ấn hành năm 2003.
2. Hát cùng tre trúc gió mây.
3. Thơ xuân.
Một số bài thơ khác đăng ở các báo : Giáo dục &Thời đại; Tạp chí Xứ Thanh.....
BIỂN NHÂN GIAN
Biếc hồng mặt biển nhân gian
Mặt trăng mờ tỏ những trang mặn nồng
Khúc xôn xao, mạn thuyền rồng
Biển dâng kỳ ảo bập bùng đêm xuân
Lạ kỳ cái biển nhân gian
Nơi này lặng, sóng ngập tràn nơi kia
Có đêm vừa dỡn trăng khuya
Thoắt trôi, vướng lưới mắc bè ai hay
Mới hiu hiu sắc trời mây
Đã thành bão cuốn, trắng tay bạc đầu.
Có đêm tối, có trăng sao
trái tim ơi, chớ lạc vào mê cung.
Ba đào mặt biển nhân gian
Cánh buồm trôi dạt, lang thang cuối trời.
Ngọn triều lớp lớp đầy với
Giữa dòng trong đục bóng người nổi nênh.
Trót đà nặng kiếp phù sinh
Tấm thân chìm nổi lênh đênh đã thường.
Cánh bèo mặt nước trùng dương
Trái tim làm đuốc tìm phương đi về.
Từ trong biển lú sông mê
Mái chèo lựa sóng mà đi bến bờ.
TRƯƠNG CHI
Lang thang tiếng hát con đò
Chơi vơi ngọn sóng giọng hò xa xôi
Thâm nghiêm điện ngọc cách vời
Trăng lu mấy độ nào nơi vọng đồng ?
Tiếng hò hiu hắt bên sông
Cho mây tụ tán, cho lòng ngổn ngang
Đất trời chi lắm đa đoan
Để thuyền rách ván, để sàn long đanh.
Tấm thân nào phải sứ sành
Thì xin làm đá làm cành người ơi !
Muộn mằn ai giọt lệ rơi
Cho tan nát mảnh hình hài cùng đinh.
Câu hò não nuột cung đình
Ngàn năm còn ướt mắt mình hôm nay!
Lang thang tiếng hát con đò
Chơi vơi ngọn sóng giọng hò xa xôi
Nguyễn Xích
NGẪU HỨNG BÁNH TRÔI
Ai người ngẫu hứng bánh trôi
Biết ai chìm nổi một đời Xuân Hương
Mấy phen đã khóc Vĩnh Tường
Lửa than mấy bận cho buồn lòng son!
Đời chưa khép lại càn khôn
Bánh trôi rắn nát tạ hồn thi nhân.
TIẾNG TRỐNG ƯU TƯ
Kỉ niệm ngày dạy học về hưu
Bây chừ buông phấn, không son.
Níu giằng chữ nghĩa sóng còn khôn nguôi.
Tơ vương duyên nghiệp với đời
Lặn trong tiếng trống cho người ưu tư.
RỪNG VỌNG
Tưởng niệm con hy sinh cứu rừng
Bố từ thềm vắng ngóng trông
Con đi chữa cháy mãi không thấy về
Lửa rừng đã tắt bốn bề...
Khói còn khét ngọn lúa quê đương thì...
Tin lành tin dữ truyền đi
Chỉ câm bặt tiếng từ quy gọi bầy
Hồn con đã hóa cỏ cây
Khói sương thành dải tang bay trắng rừng
Con ơi! "măng đắng..." đã từng
Chí trai gửi lại... khôn cùng nỗi đau!
VỜI TRÔNG CON NƯỚC
Mải mê ,thu đã tới rồi
Bờ sông gió thổi bồi hồi xa xăm
Thuyền ai ván đã thuận dằm
Cỏ may còn nhớ bước chân vụng về
Dòng xanh nao nức đêm hè
Sóng xô dội sóng tràn trề nước lên
Gió mây rúc rích trốn tìm
Vỡ oà ...
trời đất bỗng chìm trong mưa.
*
* *
Xa xôi từ bấy đến giờ
Con sông ngày ấy ...
bãi bờ hôm nay.
Tiếc cho sóng vỗ bấy chầy
Chẳng vào tời bến, chẳng say tới bờ.
Thu về ngoảnh lại ngẩn ngơ
Vời trông con nước
thẫn thờ chiêm bao.
HÀNH KHẤT
Ăn mày cửa phật (thành ngữ)
“Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm chi” *
Cửa chùa vẫn mở bồn bề hương bay.
Ai sinh ra kiếp ăn mày
Một câu hỏi biết tìm ai trả lời
Ngược xuôi dâu bể phận người
Con đường cát bụi cuốn lời chúng sinh.
Khắp nơi trống hội thập thình
Bao người nô nức đua tranh thượng đài
Đua tranh đổi vế thay vai
Ai người được mất trong ngoài cuộc chơi ?
Gió mưa sấm chớp quen rồi
Tấm thân sông biển đầy vơi bộn bề
Những là bến lú sông mê
Đâu miền ký thác mai kia gửi lời.
Lang thang cuối đất cùng trời
Lại về hành khất ở nơi chính mình.
* Thơ Đồng Đức Bốn
THẢ DIỀU
Thả con diều giấy lên trời
bao nhiêu ánh mắt xa vời ngóng trông
Diều em phết cạy phết hồng
mắt ai lấp lánh dòng sông trưa hè
Diều cao nhớ gió miền quê
ngân vang tiếng sáo vọng về xóm thôn
* *
*
Đêm nay gió mát trăng tròn
Dây lèo trao gửi người còn ngẩn ngơ.
MỘT CHÚT VÀNG THU
Se se mấy sợi heo may
mà sao núi lở lá bay động rừng
Trúc tre ngõ cũ đan cài
bóng thu loang gọi bóng người xa xưa
Vừơn thu quả đã ươm ươm
chỉ chờ nắng mới là hương dậy cành
Lặng thầm hăm hở trong đêm
Tiếc thay dào dạt trăng lên khuất rừng
Ngỡ ngàng một chút vàng thu
nâu sồng đã bạc màu tu mất rồi
Trầu về nhắn với hàng vôi
lò nung khói đã tắt rồi từ lâu.
Tác giả bài viết: Nguyễn Xích
Gửi bình luận của bạn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Làng Phượng Lĩnh : Số hộ khẩu: 322 hộ/1.500 nhân khẩu. Diện tích đất canh tác: 50 ha. Gồm : đất lúa 46,5 ha, đất màu 3,5 ha bãi ven sông. Bình quân đất nông nghiệp 330 m2/khẩu. Số hộ nghèo: 59 hộ ( bằng 18,3%). Từ Thành phố Thanh Hóa đi về hướng Bắc theo Quốc lộ 1A...


Đang truy cập :
1
Hôm nay :
191
Tháng hiện tại
: 20566
Tổng lượt truy cập : 304498